
MẶT BẰNG, HỒ SƠ KỸ THUẬT, VẬT LIỆU
Thiết kế nhà hàng
Thiết kế quyết định tổng vốn đầu tư đi vào đâu. Chúng tôi làm khái toán ngay trên hồ sơ kỹ thuật, trước khi ra công trường. Sửa trên hồ sơ mất một buổi; sửa lúc đang thi công mất cả tiền phá dỡ lẫn ngày đóng cửa.
- Khảo sát mặt bằng và yêu cầu vận hành
- Làm rõ mô hình kinh doanh và tệp khách
- Triển khai phương án thiết kế
- Duyệt bản vẽ trước khi chuyển sang thi công
Thiết kế nhà hàng là làm những việc gì?
Thiết kế nhà hàng là dựng 3 thứ: mặt bằng công năng, tức chỗ nào đặt gì và người đi lối nào; bộ hồ sơ kỹ thuật để thợ thi công làm theo; phương án vật liệu, màu sắc và ánh sáng. Trước cả ba, anh chị phải chia ngân sách: mỗi thứ ăn bao nhiêu phần trong khoản tiền bỏ ra.
Trang Dịch vụ kê 5 nhóm khoản mà vốn đầu tư của anh chị đi vào: phần hoàn thiện, hạng mục ngầm, bếp, hiện trạng mặt bằng, rồi thủ tục và thời gian chờ. Thiết kế là khâu quyết định mỗi nhóm trong số đó được ăn bao nhiêu phần.

Cập nhật 07/10/2026
Công trình đã thiết kế
Mỗi công trình dưới đây kèm một chỗ trên bản vẽ giữ được tiền hay tránh được rủi ro cho chủ đầu tư.

Khèn Nướng Sapa
Nhà có sẵn sân trong. Bản vẽ giữ lại suối, cầu gỗ và cây lớn giữa sân, phá mái và hàng cột đỡ mái cũ. Suối, cầu và cây giữ lại được thì chủ đầu tư khỏi trả tiền làm mới.

Tian Long
Mặt bằng này có người thuê trước. Bản vẽ ghi rõ chỗ phá: cậy toàn bộ nền gạch, phá toàn bộ trần thạch cao. Mái tôn và khu vệ sinh thì giữ lại hoặc gia cố, nên hai phần này không phải làm mới.

Long Wang
Gian ở tầng hầm 2, mặt tiền có rèm ngăn cháy của tòa nhà. Bộ hồ sơ tháng 5/2025 bị bên duyệt trả về. Bộ hồ sơ phòng cháy tháng 7/2025 thì lùi khu bố trí bàn ghế vào 600mm so với ranh giới gian thuê. Lùi như vậy để rèm hạ xuống không vướng bàn ghế nào.
Thiết kế nhà hàng cần những gì?

Cần 2 thứ từ phía anh chị, trước khi bên thiết kế đặt bút.
Thứ nhất là mong muốn nói ra được thành lời: mô hình định làm, tệp khách nhắm tới, quán chạy ca nào là ca đông. Thứ hai là khoảng tiền định bỏ ra. Chưa có con số cuối cũng được, nhưng phải có một khoảng.
Thiếu thứ nhất thì hai bên bàn mãi không chốt được phương án nào, rồi thành đẽo cày giữa đường: lấy ý người này một tí, người kia một tí, ra một không gian không có phong cách rõ ràng. Thiếu thứ hai thì bản vẽ phải sửa nhiều lần, mất thời gian, và phần phát sinh về sau khó kiểm soát.
Trước cả hai thứ trên còn một việc nữa: kiểm mặt bằng trước khi đặt cọc. Mặt bằng ký rồi thì thiết kế chỉ còn cách chạy theo nó.
Chúng tôi vẫn gặp chủ đầu tư ngại nói ra ngân sách, vì sợ nói ra bao nhiêu thì bị tiêu hết bấy nhiêu. Lo thế cũng có lý, nhưng giấu con số lại dẫn tới đúng cái người ta sợ: bên thiết kế vẽ không sát, rồi tốn kém thêm ở khâu sửa. Chốt khoảng tiền từ đầu thì câu hỏi đổi hẳn, từ "vẽ cái gì" thành "vẽ thế nào cho xứng với khoản tiền này".
Báo giá thiết kế nhà hàng: bao nhiêu tiền một m² sàn?

Phí thiết kế nhà hàng tính theo m² sàn, chia theo mức chi tiết của bộ hồ sơ. Bảng dưới đây là khoảng tham khảo của chúng tôi, và nó nằm trong dải mà các đơn vị khác trên thị trường cũng đang báo. Đây là khoảng để anh chị dự trù, không phải báo giá cho một mặt bằng cụ thể.
| Gói | Anh chị cầm về những gì | Khoảng tham khảo |
|---|---|---|
| Cơ bản | Mặt bằng công năng, phối cảnh 3D khu chính, hồ sơ kỹ thuật kiến trúc | 180.000 - 220.000 đ/m² sàn |
| Tiêu chuẩn | Như gói cơ bản, thêm nội thất chi tiết, hồ sơ cơ điện, dự toán vật tư | 220.000 - 300.000 đ/m² sàn |
| Nâng cao | Như gói tiêu chuẩn, thêm mặt tiền biển hiệu, và giám sát tác giả, tức người thiết kế theo sát công trường để thợ làm đúng bản vẽ | 300.000 - 390.000 đ/m² sàn |
Tính trên diện tích nào. Trên m² sàn thực tế đo sau khảo sát, không phải con số ghi trong hợp đồng thuê. Hai con số lệch nhau thường xuyên.
Chín khoản chưa nằm trong đó, và đây là chỗ hay vượt ngân sách khi anh chị đặt hai báo giá cạnh nhau: thuế giá trị gia tăng, thiết bị bếp, nội thất rời, inox bếp, biển hiệu, phí xin phép thi công của trung tâm thương mại, bộ nhận diện thương hiệu và logo, bản vẽ phòng cháy chữa cháy, rồi phần tư vấn chọn thiết bị bếp nếu anh chị chưa có sẵn danh sách thiết bị. Báo giá nào rẻ hơn hẳn thì trước khi mừng, anh chị soát xem nó đã gồm mấy khoản trong chín khoản này.
Ba khoản cuối cần nói rõ thêm, vì chúng hay bị hiểu là đã nằm trong phí thiết kế. Bộ nhận diện thương hiệu và logo thì chúng tôi không làm: phần chúng tôi làm là mặt tiền kiến trúc, tức cổng, vòm và nền biển hiệu. Thương hiệu đã có sẵn bộ nhận diện thì chúng tôi đưa nó lên mặt tiền; thương hiệu mới chưa có logo thì anh chị cấp cho chúng tôi, hoặc thuê một đơn vị chuyên làm nhận diện, vì mặt tiền chỉ dựng được khi đã biết logo và màu.
Bản vẽ phòng cháy chữa cháy cũng không nằm trong phí thiết kế. Yêu cầu khác nhau theo quy mô, theo số người, và theo chỗ mặt bằng nằm trong trung tâm thương mại hay ở nhà phố. Anh chị cần thì chúng tôi gọi một đơn vị chuyên trách phòng cháy làm cùng, rồi phần bản vẽ ấy ghép vào bộ hồ sơ chung. Bộ hồ sơ đếm ở mục ngay dưới có đúng một phần như thế.
Còn phần thiết bị bếp: chúng tôi bố trí dây chuyền bếp theo danh sách thiết bị anh chị đưa, nên anh chị đã nắm quy trình vận hành thì khoản này không phát sinh. Chưa định hình được thiết bị và cần bàn sâu chuyện chọn máy theo thực đơn thì đó là phần việc tính riêng.
Cái kéo đơn giá xuống: quy mô. Công trình càng lớn thì tiền thiết kế trên mỗi m² càng giảm, vì phần việc đầu bài và phương án gần như không đổi dù sàn rộng gấp đôi.
Cái đẩy đơn giá lên: mặt bằng trong trung tâm thương mại. Dự án trong trung tâm thương mại thường nằm ở nửa trên của khoảng, vì tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình nghiệm thu của ban quản lý đòi hồ sơ dày hơn, và bộ hồ sơ còn phải qua một vòng duyệt nữa.
Còn một lối tính khác, anh chị sẽ gặp khi đi hỏi giá: tính theo phần trăm giá trị phần xây dựng. Lối này có gốc trong định mức nhà nước, nhưng định mức nhà nước áp cho dự án đầu tư công. Nhà hàng tư nhân là giá thỏa thuận, không chịu định mức này. Nên thay vì đặt hai con số phần trăm cạnh nhau rồi so, anh chị hỏi thẳng bên báo giá: con số này dựa trên quy mô nào, và đã gồm những gì.
Một điều đáng để ý ở lối tính phần trăm: bảng định mức của nhà nước cho tỉ lệ giảm dần khi giá trị xây dựng lớn lên. Công trình to thì phần trăm nhỏ đi. Một đơn vị trên thị trường cũng báo theo cùng chiều: dự án trên 300 m² thì đơn giá mỗi m² tụt xuống. Hai nguồn khác hẳn nhau mà cùng một chiều, nên đây là cơ chế chứ không phải lời chào hàng.
Nhân thử một lượt cho dễ hình dung. Mặt bằng 200 m² sàn, chọn gói tiêu chuẩn, thì phần thiết kế rơi vào khoảng 44 tới 60 triệu đồng. Anh chị lấy diện tích sàn của mình nhân với hai đầu của khoảng là ra dải để dự trù.
Vì sao vẫn chỉ là khoảng: số cuối chốt sau khảo sát mặt bằng và sau khi chốt mức hoàn thiện. Chưa khảo sát và chưa chốt mức hoàn thiện thì mọi con số đều là con số để anh chị dự trù, không phải con số để ký.
Hồ sơ thiết kế nhà hàng gồm những bản vẽ gì?

Chỗ này ít nơi nói rõ, mà nó lại là thứ anh chị thật sự cầm về sau khi trả phí thiết kế.
Để anh chị hình dung một bộ hồ sơ dày mỏng ra sao, chúng tôi đếm thử từng phần của một bộ đã làm xong: nhà hàng lẩu bò tươi Tian Long trong Aeon Mall Hạ Long, mặt bằng thuê gần 286 m² trên tầng 4, kê 114 chỗ ngồi.
Một điều nói rõ trước khi anh chị đọc bảng: tập giấy ấy còn kẹp mấy trang không phải bên tôi vẽ, gồm một bản vẽ ống gió của chính tòa nhà và phần hồ sơ phòng cháy do một đơn vị tư vấn chuyên ngành lập. Bảng dưới đây ghi rõ phần nào là phần ấy, để anh chị biết con số ở dòng đầu bảng gồm những gì.
| Phần của bộ hồ sơ | Dày bao nhiêu |
|---|---|
| Cả bộ | 141 trang |
| Phối cảnh 3D | 16 trang |
| Danh mục bản vẽ kiến trúc và nội thất | 42 dòng |
| Bản vẽ cơ điện | 39 ký hiệu, gồm điện, điện nhẹ, nước, thông gió, điều hòa |
| Phòng cháy chữa cháy (kẹp vào bộ, không phải phần chúng tôi vẽ) | 10 bản vẽ, kèm 1 trang danh mục, do một đơn vị tư vấn phòng cháy lập |
Khu bếp trong bộ này không có trang phối cảnh nào. Bếp ra thẳng bản vẽ kỹ thuật kèm danh mục thiết bị và phần ốp lát, vì thứ cần ở bếp là kích thước để lắp đặt chứ không phải hình để xem trước. Anh chị muốn hình dung bếp trước khi làm thì xem mặt bằng bố trí, đọc theo đường đi của món ăn và của người làm bếp.
Một bộ, ba cách gọi. Cùng một tập giấy, tên tệp ghi "bản vẽ chi tiết", bìa trong ghi "bản vẽ cấp phép", khung tên từng trang ghi "hồ sơ thiết kế thi công". Ba tên cho một thứ, nên khách hay không chắc mình đang cầm bộ nào. Lúc nhận hồ sơ, anh chị hỏi thẳng một câu cho rõ: bộ này nộp đi xin phép được chưa, và thợ cầm nó ra công trường làm được chưa.
Còn một bộ thứ hai anh chị nên hỏi ngay lúc ký hợp đồng: bộ hoàn công, nhận lúc bàn giao. Bộ hoàn công ghi lại đường điện đường nước chạy chỗ nào. Vài năm sau muốn sửa gì thì khỏi phải đục tường dò lại từ đầu.
Hồ sơ thiết kế nhà hàng dày bao nhiêu trang?
- 141trang
- Cả bộ
- 16trang
- Phối cảnh 3D
- 39ký hiệu
- Bản vẽ cơ điện
Con số đáng để ý là 16 trên 141. Phối cảnh, thứ nhiều người tưởng là toàn bộ hồ sơ thiết kế, chỉ chiếm hơn một phần mười. Phần còn lại mới là thứ thợ cầm ra công trường và anh chị cầm để đối chiếu lúc nghiệm thu.
Thiết kế nhà hàng mất bao lâu?

Phần bản vẽ đi ba chặng, mỗi chặng một mốc. Với mặt bằng cỡ 70m²:
| Chặng | Mất bao lâu |
|---|---|
| Mặt bằng 2D | Khoảng 3 ngày, tính từ lúc chốt xong đầu bài |
| Phối cảnh 3D | 7 tới 10 ngày, chặng lâu nhất trong ba chặng |
| Hồ sơ kỹ thuật | 6 tới 8 ngày, tùy khối lượng bản vẽ |
| Trọn bộ | Khoảng 20 ngày, đã gồm thời gian trao đổi và sửa cùng anh chị |
Quy mô đổi thì mốc đổi theo: mặt bằng nhỏ cỡ 50 tới 70m² thì trọn bộ rơi vào 15 tới 20 ngày, nhà hàng cỡ vừa thì 20 tới 25 ngày, còn mặt bằng cỡ 1.000m² hoặc có thêm phần cảnh quan thì dài hơn. Một điều ngược với hình dung thường gặp: sàn trung tâm thương mại một tầng dù rộng vẫn vẽ nhanh hơn nhà phố chia nhiều tầng, vì ít chi tiết diện tường hơn.
Nhưng có một đoạn đồng hồ chạy mà anh chị không điều khiển được: đoạn ban quản lý tòa nhà xét bản vẽ.
Một bộ hồ sơ chúng tôi làm cho mặt bằng trong trung tâm thương mại đi qua các mốc sau:
| Mốc | Mất bao lâu |
|---|---|
| Nộp bản vẽ cho ban quản lý | Ngày bắt đầu đếm |
| Ban quản lý trả lời | 4 ngày |
| Kết luận | Duyệt kèm ý kiến. Ban quản lý chấm bộ hồ sơ đạt 97%, tức còn vài chỗ phải sửa |
| Hạn nộp lại bản sửa | 2 ngày |
| Quá hạn nộp lại | Dừng thi công |
Mỗi tòa nhà một nhịp riêng, nhưng cơ chế thì giống nhau: đoạn chờ tính bằng ngày, và hạn sửa còn ngắn hơn đoạn chờ. Chỗ đáng để ý không phải con số 4 ngày, mà là dòng cuối bảng: quá hạn nộp lại thì dừng thi công. Ngày dừng ở công trường là ngày tiền thuê mặt bằng vẫn chạy mà không ai làm gì. Hạn sửa ngắn như thế, nên lúc chọn bên thiết kế anh chị hỏi thêm một câu: bản vẽ trả về thì bên anh quay lại trong bao lâu.
Chúng tôi trả lời trước phần của mình: nhịp chuẩn của đội thiết kế là 3 ngày làm việc kể từ lúc nhận phản hồi chính thức, sửa ít thì 1 tới 2 ngày. Khối lượng sửa lớn hơn mức ấy thì chúng tôi báo lại anh chị ngay khi đọc xong phản hồi, chứ không để anh chị đợi rồi mới biết.
Những hạng mục bắt buộc dùng nhà thầu do tòa nhà chỉ định thì đặt sớm: có tòa nhà quy định phải đặt trước cả tháng. Cộng dồn lại, phần lớn thời gian của khâu này là thời gian chờ chứ không phải thời gian làm bản vẽ. Ban quản lý không đọc tròn bộ hồ sơ rồi gật một lần. Họ chạy một danh mục dài, mỗi dòng đánh dấu vào một trong ba ô: đạt, không đạt, không áp dụng. Họ kiểm những gì thì chúng tôi kể riêng trong bài ban quản lý duyệt bản vẽ kiểm gì.
Thiết kế nhà hàng khi nào phải thẩm duyệt phòng cháy?

Không phải nhà hàng nào cũng phải mang hồ sơ thiết kế đi thẩm định về phòng cháy chữa cháy. Có một ngưỡng quy mô tính theo diện tích sàn.
Ngưỡng nằm ở Phụ lục III Nghị định 105/2025/NĐ-CP, mục Công trình thương mại. Nguyên văn câu áp cho nhà hàng: "nhà hàng, cửa hàng ăn uống có tổng diện tích sàn từ 3.000 m2 trở lên". Cùng mục 6, trung tâm thương mại, siêu thị và chợ có ngưỡng thấp hơn, từ 2.000 m² sàn.
Phần lớn nhà hàng lẻ nằm dưới mức 3.000 m². Còn chữ tổng diện tích sàn trong danh mục cộng những phần nào, thì anh chị hỏi lại cơ quan quản lý ở địa phương, vì chính cách cộng quyết định quán mình có rơi vào diện phải làm thủ tục hay không.
Một điều anh chị nên tự kiểm lại tại thời điểm làm hồ sơ: nghị định này vừa được sửa bằng một nghị định khác có hiệu lực từ giữa tháng 9 năm 2026. Quy định phòng cháy đang trong đợt thay đổi, nên trước khi nộp hồ sơ, anh chị hỏi lại cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương cho chắc.
Hai chỗ anh chị dễ hiểu nhầm, nói rõ luôn:
Một: dưới ngưỡng vẫn phải làm đúng. Quán dưới ngưỡng vẫn phải làm đúng các yêu cầu an toàn cháy khi bố trí lối thoát nạn, chọn vật liệu, đi hệ kỹ thuật. Khác nhau ở chỗ hồ sơ có phải qua một cửa xét duyệt hay không, chứ không phải ở chỗ có phải làm đúng hay không.
Hai: hai văn bản khác nhau dùng cùng một con số nhưng khác đơn vị đo. Bản cũ tính theo khối tích, bản đang chạy tính theo diện tích sàn. Cùng một con số mà một bên là m³, một bên là m², thì quy mô quán ứng với nó khác hẳn nhau. Gặp con số 3.000 ở đâu thì nhìn kỹ đơn vị trước khi tự xếp quán mình vào diện nào.
Phần thi công hệ phòng cháy, từ đầu báo tới đường ống chữa cháy, chúng tôi nói ở trang cơ điện nhà hàng.
Ngân sách thiết kế nhà hàng nên chia cho những phần nào?

Chuyện chia tiền giữa các hạng mục dễ hình dung nhất qua một việc ai cũng làm.
Đi chợ mua đồ ăn cho 6 người mà không định trước tiêu bao nhiêu, thấy con cá ngon thì mua cả con. Đáng ra chỉ nên mua nửa con, phần còn lại để mua rau, mua gia vị. Định lượng mỗi người 50.000 đồng, 6 người là 300.000. Mua con cá hết 200.000 rồi thì 100.000 còn lại có đủ cho cả rau lẫn gia vị không.
Ngân sách một nhà hàng cũng vậy. Chia sai thì tiền vẫn tiêu hết, mà không gian không lên được như anh chị hình dung lúc xem phối cảnh. Đây là kiểu lãng phí khó chịu nhất, bởi nó không hiện ra ở dòng nào trên hóa đơn: hạng mục nào cũng đúng giá, chỉ có tỉ lệ giữa chúng là sai.
Ba chỗ chúng tôi thấy hay bị đặt nhầm:
| Hạng mục | Thường bị làm thế nào | Cái giá hiện ra lúc nào |
|---|---|---|
| Hạ tầng kỹ thuật đi ngầm và thiết bị treo trên trần | Cắt trước, vì khách bước vào không nhìn thấy | Lúc nhà hàng chạy thật: trần thấp xuống, gió thổi không tới, đèn không đủ sáng chỗ cần sáng |
| Bố trí lối đi và khoảng cách bàn | Nhồi thêm bàn cho đủ số chỗ | Lúc quán đông: khách đứng dậy thì va lối đi, nhân viên bưng đồ phải lách |
| Chiếu sáng | Lắp đèn theo cảm giác, không có phương án ánh sáng | Suốt đời quán: chỗ cần sáng thì tối, chỗ không cần thì chói |
Chỗ thứ nhất có một con số để anh chị hình dung. Chiều cao từ sàn lên trần hoàn thiện nên đạt 2,6 tới 2,8m thì không gian mới thoáng. Nhưng có mặt bằng trần thô, tức trần lúc chưa làm gì, đã thấp sẵn. Đi thêm đường gió, điều hòa, máng đỡ dây điện và đèn thì chỗ thấp nhất chỉ còn 2,2m. Cắt khoản đi ngầm thì được về tiền, nhưng cái mất thì nằm trên đầu khách suốt những năm quán mở cửa.
Đổi vật liệu hay màu sơn thì không gian đổi được bao nhiêu?

Câu này khách hay hỏi lúc cân nhắc cắt bớt một hạng mục đắt.
Đổi một thứ phủ khắp không gian, như sơn lại toàn bộ, thì cảm giác chung có đổi. Nhưng nhiều nhất cũng chỉ chừng 20 tới 25%. Vì nhiều thứ cùng lúc tạo nên cảm giác trong một không gian: thiết bị nội thất, ánh sáng, đồ trang trí, vật liệu, màu. Đổi một thứ thôi, kể cả đổi trên diện rộng, thì phần còn lại vẫn giữ nguyên cái cũ.
Và 20 tới 25% là mức của thứ phủ khắp. Đổi một mảng cục bộ, như bộ đèn thả giữa sảnh hay mảng ốp sau quầy bar, thì con số còn thấp hơn nữa.
Một điều phải nói cho đủ: cách chia tỉ trọng không có bản dùng chung cho mọi nhà hàng. Mỗi lần làm một phương án, người thiết kế tự đặt mức quan trọng cho từng phần, và hai quán khác mô hình thì bảng chia khác nhau. Có nhà hàng dồn rất nhiều vào đồ trang trí; có nhà hàng tối giản tới mức chỉ còn bàn, trần và sàn sơn một mảng. Muốn biết con số cho đúng quán mình thì phải hỏi trên chính phương án đang vẽ.
Người thiết kế họ định hình cho không gian này là ánh sáng chiếm bao nhiêu phần trăm, vật liệu chiếm bao nhiêu phần trăm, màu sắc chiếm bao nhiêu phần trăm, nội thất chiếm bao nhiêu phần trăm.
Lưu Văn Sỹ, Cố vấn kinh doanh nhà hàng, Giám đốc New Sky
Chia trước như thế thì lúc phải cắt, anh chị biết cắt chỗ nào ít đau nhất.
Thiết kế nhà hàng sai thì mất những gì?

Ba chuyện thật, ba mức giá khác nhau.
Chuyện thứ nhất, sửa khi mới xong hồ sơ. Một chủ đầu tư đổi mô hình quán sau khi hồ sơ đã hoàn thiện, chưa đụng tới thi công. Tiến độ lùi khoảng 20 ngày, tính thêm ngoài quãng làm hồ sơ ở mục thời gian phía trên, trên một mặt bằng thuê khoảng 300 triệu đồng một tháng. Hai chục ngày ấy rơi vào lúc quán chưa bán được đồng nào, mà tiền thuê thì vẫn chạy đủ. Mặt bằng nhỏ hơn thì con số nhỏ hơn, còn cơ chế thì y nguyên. Tức sửa ở khâu hồ sơ vẫn tốn tiền thật, chỉ là tốn ít hơn.
Chuyện thứ hai, sửa khi đã lắp xong. Một nhà hàng nằm ở khối đế chung cư, tức khối thương mại chiếm mấy tầng dưới cùng của một tòa nhà ở. Ban kỹ thuật tòa nhà duyệt bản vẽ, thợ đi đường ống theo đúng phương án duyệt, lắp xong xuôi. Rồi đại diện cư dân phản đối, không cho đi đường ống theo lối đã duyệt nữa. Phải đổi toàn bộ phương án thi công, phát sinh cả thời gian lẫn ngân sách.
Chuyện thứ ba, gặp ngay trên công trường. Bóc lớp vữa sàn lên thì lộ ra một lớp gạch cũ mà bản vẽ không có, vì lúc khảo sát nó nằm khuất dưới. Loại phát sinh này không chờ ai duyệt được: thợ đang đứng chờ ngay trên công trường, nên phải chốt cách xử lý ngay trong ngày.
Còn một kiểu mất nữa, không hiện ra thành hóa đơn nào. Bố trí không hợp lý thì vận hành vất vả: nhân viên đi nhiều bước hơn cần thiết, không quan sát được bàn, khách gọi không thấy ai. Khách không biết bản vẽ sai chỗ nào, họ chỉ thấy nhân viên thờ ơ. Trải nghiệm kém dần thì khách thưa dần, rồi doanh thu xuống. Một nét đặt sai trên bản vẽ đi được tới tận doanh thu.
Nhà hàng diện tích nhỏ thì thiết kế khác gì?

Mặt bằng nhỏ thì thiết kế không nhẹ đi. Ngược lại, sai số cho phép nhỏ hơn.
Ba chỗ khác biệt:
Mỗi m² phải gánh nhiều việc hơn. Mặt bằng rộng thì thừa chỗ để sửa lại chỗ bố trí chưa đẹp. Mặt bằng nhỏ thì không có chỗ thừa: kê thêm một bàn là hẹp lối đi, bỏ một bàn là hụt doanh thu.
Phần hạ tầng kỹ thuật không co lại theo diện tích. Quán nhỏ vẫn cần hút mùi, vẫn cần cấp điện đủ cho bếp, vẫn cần lối thoát nạn. Ba khoản vừa kể gần như cố định, nên trên một mặt bằng nhỏ chúng chiếm tỉ trọng lớn hơn hẳn trong tổng vốn.
Hai con số hay bị lẫn thành một. Người ta hay nghĩ diện tích chia cho một con số nào đó là ra số chỗ ngồi, xong. Thật ra có hai phép chia khác hẳn nhau, phục vụ hai việc khác nhau:
| Phép chia | Trả lời câu gì | Ai đặt ra con số |
|---|---|---|
| Diện tích sàn chia cho hệ số không gian sàn, tính bằng m² mỗi người | Nhà này phải tính cho bao nhiêu người thoát nạn khi có cháy | Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn cháy, Bảng G.9 |
| Diện tích chia cho diện tích mỗi chỗ ngồi | Kê được bao nhiêu bàn, bao nhiêu chỗ để bán hàng | Phương án thiết kế. Quán cần hành lang chọn đồ hay dãy tủ bày hàng thì mỗi chỗ ăn nhiều diện tích hơn |
Con số thứ nhất là ràng buộc cứng: nó quyết định chiều rộng lối thoát và số lối ra, không thương lượng được. Con số thứ hai là bài toán kinh doanh: kê dày thì nhiều chỗ nhưng khách ngồi chật, kê thưa thì ngược lại.
Anh chị cần con số chính xác cho quán mình thì tra thẳng quy chuẩn, hoặc hỏi đơn vị thiết kế đang làm hồ sơ.
Buổi đầu, việc của chúng tôi là chia ngân sách ra từng hạng mục, trước khi ai động vào bản vẽ. Việc của anh chị là mang tới ba thứ: mô hình định làm, tệp khách nhắm tới, và khoảng tiền định bỏ ra.
Thiết kế cho từng mô hình nhà hàng
Hạng mục thực hiện
Ý tưởng và định vị không gian
Chốt phong cách và cảm giác không gian bám theo mô hình kinh doanh anh chị định làm. Đây là chỗ quyết định tỉ trọng: thứ nào ăn nhiều phần, thứ nào ăn ít.
Mặt bằng công năng theo luồng vận hành
Chốt chỗ đặt bếp, khu phục vụ và chỗ ngồi theo đường đi của món ăn và của nhân viên. Khâu này quyết định số chỗ ngồi anh chị kê được, và quyết định cả chuyện nhân viên có vướng nhau lúc nhà hàng đông khách hay không.
Bản vẽ kỹ thuật phục vụ thi công
Bộ bản vẽ đội thi công làm theo, gồm cả phần hạ tầng đi ngầm và thiết bị trên trần. Anh chị nhận bộ này trước khi thợ vào công trường.
Vật liệu, màu sắc và nhận diện không gian
Chốt vật liệu theo đặc thù từng khu, rồi mới tới màu và nhận diện thương hiệu. Khâu này quyết định cả tiền bảo trì về sau, vì vật liệu sai khu là thứ hỏng sớm nhất.
Hỏi trước khi bắt đầu
Nên chọn phong cách thiết kế nhà hàng theo mô hình hay theo sở thích?
Theo mô hình và tệp khách trước. Sở thích của anh chị vẫn có chỗ, nhưng nó chọn trong khoảng mà mô hình cho phép, chứ không chọn thay. Nhà hàng bán nhanh, khách ngồi ngắn thì lối đi và chỗ quay đầu của nhân viên quyết định phong cách được phép làm tới đâu; nhà hàng khách ngồi lâu thì ngược lại, chịu được nhiều chi tiết hơn. Và phong cách kéo theo tiền: những phong cách nhiều chi tiết như tân cổ điển, Indochine hay Nhật cần vật liệu và công hoàn thiện cao hơn, nên khoản thiết kế lẫn khoản thi công đều nhích lên. Chốt ngân sách trước rồi chọn phong cách trong khoảng ngân sách đã chốt thì không phải quay lại cắt.
Mang một mẫu thiết kế nhà hàng đẹp tới yêu cầu làm theo thì có được không?
Được, và rất nên mang, nhưng mang để nói ý chứ đừng mang để chép. Tấm ảnh anh chị thấy đẹp được chụp trong một mặt bằng khác: trần khác, cột khác, hướng ánh sáng khác, và thường là rộng hơn. Bê nguyên sang mặt bằng của anh chị thì cái đẹp trong ảnh hụt đúng ở chỗ không ai chụp. Cách dùng đúng: chỉ ra trong ảnh thứ anh chị muốn giữ, thường là cảm giác chung, một mảng vật liệu, một kiểu ánh sáng. Còn bố trí thì dựng lại từ mặt bằng thật.
Nhà hàng bình dân, vốn mỏng thì có cần thuê thiết kế không?
Vốn càng mỏng thì càng ít chỗ để sai. Phần bắt buộc không giảm theo vốn: lối thoát nạn, hút mùi cho bếp, cấp điện đủ cho thiết bị nấu vẫn phải có đủ, dù anh chị bán cơm bình dân hay bán món cao cấp. Nên ở mức vốn mỏng, việc của khâu thiết kế không phải là bày thêm, mà là chọn bỏ cái gì cho đúng: bỏ phần khách không nhìn thấy và không ảnh hưởng vận hành, giữ phần chạm vào khách mỗi ngày.
Thiết kế nhà hàng có gồm bộ nhận diện và mặt tiền biển hiệu không?
Mặt tiền biển hiệu thì có, bộ nhận diện thương hiệu và logo thì không. Phần chúng tôi làm là mặt tiền kiến trúc, tức cổng, vòm và nền biển hiệu; phần ấy nằm ở gói nâng cao chứ không mặc định đi kèm, còn gói cơ bản và gói tiêu chuẩn dừng ở không gian. Bộ nhận diện và logo thì anh chị cấp cho chúng tôi, hoặc thuê một đơn vị chuyên làm nhận diện, vì mặt tiền chỉ dựng được khi đã biết logo và màu. Chỗ nên tính trước khi chọn: biển hiệu và mặt tiền chốt sớm thì phần điện chờ, phần kết cấu đỡ biển đi luôn vào hồ sơ kỹ thuật, khỏi đục lại sau. Thực đơn in và ấn phẩm cũng không nằm trong ba gói, anh chị hỏi riêng.
6 khâu của một công trình, cùng một đầu mối
- Thiết kế nhà hàngAnh chị đang ở đây
- Xây dựng nhà hàng
- Cơ điện nhà hàng
- Inox bếp công nghiệp
- Nội thất nhà hàng
- Biển hiệu nhà hàng


