
ĐỒ GỖ, QUẦY, VÁCH VÀ TRẦN
Nội thất nhà hàng
Bếp thì nóng và dầu mỡ. Khu rửa thì ướt cả ngày. Lối khách đi thì bàn ghế va quệt suốt. Mỗi chỗ ăn mòn vật liệu một kiểu, nên chúng tôi chọn đồ theo từng khu chứ không chọn theo bảng giá.
- Bóc tách hạng mục
- Sản xuất tại xưởng
- Kiểm tra hoàn thiện
- Lắp đặt công trường
Nội thất nhà hàng khác nội thất nhà ở chỗ nào?
Nội thất nhà hàng gồm đồ gỗ, quầy, vách và trần. Khác đồ nhà ở 2 chỗ. Một, nó bị dùng liên tục suốt thời gian mở cửa, chứ không phải vài lượt một ngày. Hai, cùng một mặt bằng mà khu khách ngồi, khu bếp và khu vệ sinh chịu ẩm khác hẳn nhau. Nên phần đắt tiền nằm ở khâu chọn vật liệu, không ở khâu sản xuất.
Vốn làm một nhà hàng chia ra mấy khoản lớn. Nội thất là khoản khách nhìn thấy và sờ vào mỗi ngày, nên 2 nhà hàng cùng diện tích mà lệch tiền nội thất thì phần lớn lệch ở mức vật liệu.

Cập nhật 08/10/2026
Nội thất ở những nhà hàng đã làm
Mỗi công trình dưới đây kèm một chỗ ở phần nội thất giữ được tiền hay tránh được rủi ro cho chủ đầu tư.

G.Master
Gian giữ nguyên trần bê tông của tòa nhà, không đóng trần thạch cao, nên bớt hẳn một hạng mục. Đổi lại, trước khi sơn trần phải bọc che đường ống phòng cháy, đường ga và dàn lạnh của tòa nhà.

Long Wang
Gian tầng 5 làm trên mặt bằng của một nhà hàng cũ. Bản vẽ hiện trạng ghi dùng lại trần trang trí, vách kính mặt tiền và 2 vách ốp cột tráng gương. Trần và hai loại vách này không phải đóng mới.

Long Wang
Bên duyệt hồ sơ dặn riêng cho đồ nội thất gian này: không món nào được cản rèm ngăn cháy ở mặt tiền. Bộ hồ sơ tháng 5/2025 bị trả về, mà hồ sơ chưa qua duyệt thì chưa được thi công.
Nội thất nhà hàng gồm những hạng mục gì?
Bốn nhóm: đồ gỗ, quầy, vách, và trần trang trí. Nghe thì gọn, nhưng lúc đi xin báo giá thì đây lại là chỗ hay lệch nhau nhất giữa 2 đơn vị, vì mỗi bên khoanh phạm vi một kiểu.
| Nhóm | Gồm những gì | Thứ trông giống mà không thuộc nhóm này |
|---|---|---|
| Đồ gỗ | Bàn, ghế, ghế băng, tủ, kệ, cánh cửa gỗ | Bàn inox và kệ inox trong bếp, thuộc hạng mục inox bếp |
| Quầy | Quầy bar, quầy lễ tân, quầy thu ngân | Máy pha chế và thiết bị đặt trên quầy, chủ đầu tư mua riêng |
| Vách | Vách ngăn khu, vách ốp tường, lam trang trí, tức những thanh gỗ hay nhôm xếp song song làm mảng che | Tường xây, thuộc hạng mục xây dựng |
| Trần trang trí | Trần gỗ, trần lam, mảng trần hạ thấp xuống để lấy dáng | Đường ống gió, đèn, đầu báo cháy nằm trên trần, thuộc hạng mục cơ điện |
Cột thứ ba mới là cột hay làm lệch 2 bản báo giá. Cùng một cái trần, phần gỗ là nội thất còn phần ống gió là cơ điện; cùng một khu bếp, cái tủ gỗ là nội thất còn cái bàn inox cạnh nó thì không. Chỗ giáp ranh như vậy không hiện ra trong bảng khối lượng của bên nào, tức bảng kê từng đầu việc kèm số lượng mà nhà thầu dựa vào để báo giá. Nên tới lúc lắp mới lộ.
Anh chị so 2 báo giá thì so trên cùng một danh sách nhóm trước đã. Một bên báo rẻ hơn mà đã cắt mất mảng trần trang trí thì 2 con số cuối cùng không so được với nhau.
Phần này chúng tôi đóng tại xưởng riêng rồi chở ra lắp. Ở cơ sở Long Wang trong Vincom 191 Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, khoang ghế băng và mặt bàn lẩu là đồ xưởng chúng tôi đóng. Xưởng còn 2 mảng nữa là inox bếp và quảng cáo, và cách 3 mảng khớp nhau ở công trường thì chúng tôi kể ở trang xưởng sản xuất.

Nên tính tiền nội thất theo tuổi thọ hay theo giá mua?
Cùng một tấm ốp, đặt ở khu khách ngồi thì 10 năm vẫn lành, đưa vào khu rửa bát chưa hết một năm đã phồng rộp. Nên con số đáng nhìn không phải giá ghi trên báo giá. Đáng nhìn là giá chia cho số năm mà món đồ trụ được ở đúng cái khu định đặt nó.
Khổ nỗi chẳng ai in sẵn số năm trụ được ra cho anh chị. Số năm ấy nằm ở 2 chỗ: vật liệu chọn cho đúng khu, và cách người ta đóng phần khuất bên trong. Cả hai chỗ đều hỏi được, và hỏi ngay lúc còn đang cầm báo giá trong tay. Còn nội thất ăn bao nhiêu phần trong tổng vốn, và một bộ bàn ghế nhà hàng rơi vào khoảng bao nhiêu một bàn, thì có trong bảng khoảng giá 5 khoản lớn của một suất đầu tư nhà hàng.
Đầu tư thấp thì vật liệu rẻ, và cái đánh đổi là tái đầu tư sớm: mới 1,5-2 năm đã phải làm lại. Đầu tư đúng từ đầu, khấu hao 3-5 năm, thì không phải tái đầu tư sớm.
Còn con số ban đầu hình thành từ đâu, và vì sao mỗi nơi chào một kiểu, chúng tôi kể ở bài giá thiết kế nội thất nhà hàng tính theo cái gì.
Lưu Văn Sỹ, Cố vấn kinh doanh nhà hàng — Giám đốc New Sky
Hai con số trong lời trên đo 2 thứ khác nhau, anh chị đừng đặt cạnh nhau rồi thấy chọi: 10 năm là tuổi của một tấm ốp nằm đúng khu khô, còn 1,5-2 năm hay 3-5 năm là nhịp phải bỏ tiền làm lại cả một mảng nội thất.
Và chuyện làm lại hiếm khi gọn trong một đợt. Một chuỗi chúng tôi làm từ cơ sở đầu tiên rồi làm tiếp lượt cải tạo, khi thương hiệu đổi hẳn diện mạo. Cải tạo xong thì trong hệ thống vẫn còn chừng 20-30% số cơ sở mang diện mạo cũ, vì mỗi cơ sở phải chờ tới lượt đóng cửa mới sửa được.
Với nhà hàng lẻ thì chuyện làm lại dễ tính hơn: anh chị không phải chờ lượt của ai, nhưng cũng không có cơ sở nào khác gánh doanh thu trong mấy ngày đóng cửa sửa. Nên khoản phải làm lại sớm ở mấy khu ẩm kéo theo cả tiền sửa lẫn mấy ngày không bán hàng.

Nội thất nhà hàng nên dùng vật liệu gì cho từng khu?
| Khu | Vật liệu phải chịu cái gì ở đây | Dùng được gì |
|---|---|---|
| Khu khách ngồi | Ghế kéo ra kéo vào mấy trăm lượt mỗi ngày, mặt bàn lau không ngơi tay. Chịu mài mòn là chính | Bề mặt: sơn nước dùng được ở đây. Mặt bàn và mặt quầy thì nên là laminate cao áp, loại có ghi cấp chống mài mòn. Phần cốt: đây không phải vùng hay tiếp nước, nên cốt gỗ thường vẫn dùng được |
| Khu bếp và khu rửa | Hơi nước gần như suốt ca. Chỗ có bể hải sản còn thêm hơi nước muối, ăn vào bề mặt nhanh hơn nước thường | Bề mặt: kính, inox, hoặc gạch chịu mài mòn. Phần cốt: ván loại dùng cho điều kiện ẩm, dán bằng keo chịu nước |
| Khu vệ sinh | Nhân viên xịt rửa liên tục, nước bắn lên cả mảng vách. Ở nhà thì khu này khá khô, ở nhà hàng thì không | Bề mặt: kính hoặc gạch chịu mài mòn. Phần cốt: ván loại dùng cho điều kiện ẩm, dán bằng keo chịu nước |
Chữ phần cốt trong cột cuối là ruột bên trong của tấm ván, phần mà lớp mặt phủ lên và không ai nhìn thấy sau khi lắp xong.
Bảng này anh chị mang đi hỏi bên khác được. Hỏi 3 câu: cốt dùng ở khu ẩm là loại nào, dán bằng keo gì, và mép cắt của tấm ván có được bịt lại không. Hỏi cả mép cắt vì nước vào ruột ván là vào từ chỗ mép.
Riêng chữ "ván chống ẩm" thì nghe chắc mà không chắc: người bán gọi hàng như vậy thôi, chứ trong tiêu chuẩn không có hạng ván nào mang tên như thế. Tiêu chuẩn có chia hạng ván thật, bằng 2 văn bản làm 2 việc khác nhau. TCVN 7753:2007 chia ván MDF ra loại dùng nơi khô và loại dùng nơi ẩm. Còn TCVN 7756-5:2007 là phép thử: ngâm tấm ván trong nước 24 giờ rồi đo xem nó dày lên bao nhiêu. Anh chị hỏi bên báo giá xem ván họ chào thuộc loại nào. Hỏi xong thì hoặc nhận về một cái tên tra lại được, hoặc biết là phần cốt chưa ai tính tới.
Và một chỗ đừng trông đợi nhầm: chống ẩm không phải chống nước. Ván loại dùng cho điều kiện ẩm chịu được hơi nước và cữ lau rửa hằng ngày. Nhưng ngâm chân trong nước đọng thì nó vẫn trương. Chỗ nào nước đứng lại được thì phải xử lý bằng cách khác, không phải bằng cách đổi tên loại ván.
Chia khu không dừng ở tấm ván và lớp sơn. Chia khu xuống tới tận cái nẹp, tức thanh chắn nhỏ bịt mép chân tường và mép sàn. Bản vẽ một cơ sở Long Wang chúng tôi đang thi công ở khu đô thị Linh Đàm, quận Hoàng Mai, Hà Nội, ghi 2 loại nẹp cho 2 khu: bếp dùng nẹp inox V30, khu khách dùng nẹp gỗ màu đen V20. Cái nẹp là món rẻ gần nhất trong cả công trình, mà vẫn phải chia theo khu, vì nó nằm đúng chỗ nước chảy dồn về.
Riêng trần và vách thì còn kéo theo một thứ nữa ngoài độ bền: tiếng trong phòng ăn dội lại nhiều hay ít. Chuyện tiếng dội chúng tôi kể ở bài nhà hàng ồn thì chữa được ở đâu.

Vì sao sơn nước hay được chọn, rồi hay phải làm lại?
Chỗ dễ nhầm nhất là sơn nước. Sơn nước rẻ, thi công nhanh, mới xong nhìn khá tốt: 3 lý do đủ để nhiều anh chị chọn ngay cho cả nhà hàng. Đặt ở khu khách thì không sao thật. Đặt vào khu ẩm thì chỉ một thời gian là bong tróc, ố vàng, rồi mốc.
Ở khu ẩm, anh chị thường phải chọn giữa 2 hướng: một là sơn nước, hai là ốp kính hoặc ốp gạch. Cầm bảng giá trên tay thì anh chị chỉ so được 2 hướng ở lần làm đầu, mà ở lần làm đầu thì sơn nước rẻ hơn thật. Bảng giá thiếu một dòng: sơn nước ở khu ẩm rồi sẽ phải làm lại, còn kính với gạch thì không. Cộng thêm dòng làm lại vào thì sơn nước hết rẻ.
Và tiền công làm lại còn chưa phải khoản đắt nhất. Sơn lại một mảng vách trong khu bếp thì phải dọn bếp ra, mà bếp thì không dọn được vào giờ bán hàng.

Làm sao biết đồ gỗ đã hỏng phần cốt bên trong?
Biết bằng tay và bằng tai, chứ không biết bằng mắt. Vì kiểu hỏng này ăn vào bên trong mà không để lại dấu nào ở bề mặt: cánh tủ, vách, chân đồ ở vùng hay tiếp nước mà đóng bằng cốt thường thì cốt hút nước từ mép cắt, trương lên, mục dần từ trong ra, trong khi nhìn bên ngoài vẫn phẳng, vẫn lành.
3 dấu hiệu cho biết phần cốt đã hỏng trong khi lớp mặt còn nguyên:
- Gõ vào nghe bộp, khác hẳn tiếng chắc của tấm ván còn nguyên ruột.
- Ấn tay thấy lún ở chân tủ hoặc quanh mép cắt.
- Cánh vênh không khép kín, hoặc mối nối hở ra một đường.
Tới lúc đó thì lớp mặt còn đẹp cũng chẳng cứu được, cả bộ vẫn phải tháo ra đóng lại. Khổ cái là phần cốt nằm bên trong, xong việc rồi không ai nhìn thấy, nên mỗi lần ngồi cân đối lại tiền, nó hay bị hạ chuẩn đầu tiên. Khu vệ sinh là chỗ hỏng sớm nhất, và phần lớn là vì bị hạ chuẩn như vậy.
Đây cũng là chỗ phải xem kỹ nhất khi mua lại đồ của một nơi vừa đóng cửa: 3 dấu hiệu trên chạy trước, rồi mới tới chuyện mặc cả. Còn cách xem một bộ bàn ghế cũ trước khi xuống tiền, chúng tôi kể ở bài bàn ghế nhà hàng hỏng sớm ở chỗ nào.

Bản vẽ nội thất nhà hàng gồm những gì?
Trả tiền thiết kế xong, cho riêng phần nội thất anh chị cầm về một tập bản vẽ. Trong tập có 4 loại trang:
- Mặt bằng bố trí, cho biết món nào đặt ở đâu trong nhà hàng.
- Diện tường và mặt cắt, tức hình vẽ từng bức tường và từng lát cắt qua món đồ, để thợ biết cao thấp dày mỏng.
- Bảng vật liệu, ghi mỗi vị trí dùng loại gì, mã gì.
- Bảng thống kê nội thất, kê từng món một dòng kèm số lượng.
Trang cuối cùng là trang ít người mở ra đọc nhất, mà lại là trang nói thẳng anh chị phải trả tiền cho những gì.
Đây là bảng tầng 1 của nhà hàng Khèn Nướng Sapa ở số 9 Thoại Ngọc Hầu, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà phố 2 tầng, hồ sơ thiết kế thi công lập cuối năm 2025, cả bộ 54 trang, bảng nội thất nằm ở 2 trang cuối. Chép từ bản vẽ, giữ 2 cột nói ra được món nào phải đóng mới:
| Món | Thiết kế cần | Trong kho đang có |
|---|---|---|
| Ghế đôn ngoài trời | 52 | 67 |
| Bàn 4 không khoét lỗ | 16 | 19 |
| Bàn 6 không khoét lỗ | 8 | 5 |
| Ghế đơn có nệm | 33 | 87 |
| Ghế băng 1m2 | 6 | 16 |
| Ghế băng 1m6 | 5 | 5 |
Bản vẽ còn 2 cột nữa, đều tính ra được từ 2 cột trên: cột số món thừa ra, và cột số món phải đóng mới. Và bản vẽ còn 2 dòng nữa chỉ điền mỗi cột đóng mới, không có số ở 2 cột trên: 4 cái bàn cao 900 và 16 cái ghế đôn cao.
Đặt 2 cột số cạnh nhau là biết ngay món nào phải đóng mới, món nào không. Nhìn dòng ghế đơn có nệm: thiết kế cần 33 cái, trong kho đang có 87 cái. Tức là dòng ghế đơn không phải đóng mới một cái nào. Cả bảng gốc 8 dòng thì 3 dòng phải đóng mới, 5 dòng còn lại lấy đồ đang có.
Cột Trong kho đang có ghi số đồ chủ đầu tư sẵn có. Bản vẽ không ghi số đồ trong kho từ đâu ra, và chúng tôi cũng không suy đoán hộ. Mặt bằng trống hoàn toàn thì cột Trong kho đang có để trống, mọi dòng rơi vào cột làm mới. Nhưng anh chị nhận lại một mặt bằng từng là nhà hàng, hoặc mở cơ sở thứ hai mà còn đồ từ cơ sở cũ, thì cột Trong kho đang có trừ thẳng vào số tiền anh chị phải trả.
Món đã có thì không phải trả tiền lần thứ hai, nhưng chỉ khi có người bóc bảng ra mà đối. Báo giá gộp một cục cho "phần nội thất" thì không ai nhìn ra dòng nào là dòng dùng lại đồ cũ. Nên lúc nhận bản vẽ, anh chị hỏi thẳng một câu: bảng thống kê nội thất nằm ở trang nào, và cột Trong kho đang có lấy số từ đâu ra.
Anh chị cầm bộ bản vẽ trong tay mà chưa chắc bảng thống kê có đủ hay không thì gửi hồ sơ sang cho chúng tôi bóc thử. Chúng tôi soát từng dòng, đối chiếu với mặt bằng, rồi chỉ ra chỗ nào đang tính trùng với đồ anh chị đã có sẵn.
Thêm một điều đọc được từ chính bảng này: tên món trong bản vẽ gọi theo cách của nghề, chứ không gọi theo cách bán hàng. "Bàn 4" là bàn cho 4 người, "bàn khoét lỗ" là bàn có lỗ giữa để đặt bếp nướng hay nồi lẩu, "ghế đôn" là ghế không tựa. Anh chị đọc quen mấy cái tên này thì lúc ngồi nghe báo giá sẽ biết bên kia đang tính cái gì.

Quầy bar nhà hàng giá bao nhiêu?
Hỏi 2 nơi về cùng một cái quầy bar, anh chị dễ nhận về 2 con số chênh nhau gấp đôi gấp ba, mà cả hai cùng ghi một đơn vị là đồng mỗi mét dài. Nhìn qua thì tưởng có bên nói thách. Mở kỹ ra thì hai bên đang bán 2 thứ khác nhau: một bên đóng cái thùng quầy, một bên giao cả cái quầy pha chế dùng được ngay.
Mấy con số dưới đây là giá tham khảo tháng 9 năm 2026. Bảng đầu là quầy pha chế inox 304 của một xưởng inox. Họ niêm yết giá trọn từng cái, và ghi rõ trong giá đã có hộc đá âm bàn, bồn rửa và chân tăng chỉnh.
| Cỡ quầy (dài × rộng × cao) | Giá trọn một cái (đ) |
|---|---|
| 1.200 × 700 × 800mm | 16.621.388 |
| 1.500 × 700 × 800mm | 17.999.315 |
| 1.800 × 700 × 800mm | 19.444.337 |
| 2.000 × 700 × 800mm | 20.865.826 |
| 2.200 × 700 × 800mm | 21.795.195 |
Chia thử ra mét dài thì lòi ra một chỗ ngược đời: quầy 2,2m còn khoảng 9,9 triệu mỗi mét, mà quầy 1,2m lên gần 13,9 triệu mỗi mét. Cùng một xưởng, cùng một kiểu quầy, cái ngắn lại đắt hơn theo mét. Vì hộc đá với bồn rửa tính theo cái chứ không theo mét. Quầy càng ngắn thì tiền hộc đá với bồn rửa càng chia cho ít mét.
Đồ inox trong bếp cũng báo giá theo mét dài, nhưng tính theo lối khác hẳn. Bảng giá tủ và chậu inox nằm ở trang inox bếp công nghiệp.
Bảng thứ hai là giá đóng quầy theo bậc vật liệu gỗ, tính theo mét dài, tức một mét chiều dài của quầy chứ không phải m². Quy cách: quầy bar và quầy lễ tân cao dưới 1.100mm, rộng 400-600mm.
| Vật liệu | Giá mỗi mét dài (đ) |
|---|---|
| MFC phủ melamine An Cường | 4.800.000 |
| MFC chống ẩm phủ melamine An Cường | 5.200.000 |
| MDF phủ melamine An Cường | 5.500.000 |
| MDF chống ẩm phủ melamine An Cường | 5.600.000 |
| MDF phủ veneer sồi, xoan đào | 6.400.000 |
| MDF veneer kết hợp gỗ ghép | 7.200.000 |
| Gỗ tự nhiên sồi | 9.600.000 |
| Gỗ tự nhiên căm xe | 14.000.000 |
| Gỗ gõ đỏ Nam Phi | 18.200.000 |
Hai chữ MFC và MDF trong bảng là 2 loại ván công nghiệp khác nhau ở phần ruột: MFC ruột dăm gỗ ép, MDF ruột bột gỗ ép nên mịn hơn và nặng hơn. Còn melamine với veneer là 2 lớp phủ ngoài, dán lên phần ruột.
So trong bảng thì 2 dòng chống ẩm đắt hơn dòng thường cùng ruột chưa tới 500.000đ mỗi mét dài. So khoản chênh lệch chưa tới 500.000đ với tiền tháo ra đóng lại một cái quầy sau 2 năm thì anh chị tự thấy nó đáng hay không đáng.
Bảng trên dừng ở 2 lớp phủ melamine và veneer, nên còn một câu hay gặp mà bảng chưa trả lời: đổi sang lớp phủ khác thì đội lên bao nhiêu. Theo giá thị trường tháng 9, mức lệch giá giữa các lớp phủ đi thành 3 bậc, tính trên giá mỗi mét dài của cùng một loại ruột ván. Melamine là mốc để so. Laminate và veneer cộng thêm khoảng 10-25%. Acrylic loại không để lộ đường viền cạnh cộng thêm khoảng 40-70%.
Ghép mức chênh lệch này với bảng chia vật liệu theo khu ở trên thì ra một chỗ anh chị phải chọn. Mặt quầy nên là laminate, mà laminate cộng 10-25% so với melamine. Phần cộng thêm nằm trên cái mặt quầy, tức đúng chỗ khách tì tay và nhân viên lau mấy trăm lượt mỗi ngày. Còn acrylic đắt hơn hẳn thì phần lớn tiền trả cho độ bóng và độ liền mạch của cạnh, không trả cho khả năng chịu ẩm.
Nên lúc cầm một tờ báo giá quầy bar, câu hỏi đáng tiền nhất không phải bao nhiêu một mét, mà là con số này đã có những gì: mặt quầy, bồn rửa, hộc đá, chỗ chừa cho máy pha và tủ mát. 2 tờ báo giá chỉ so được với nhau sau khi cả hai kê ra đủ những gì nằm trong quầy.

Làm nội thất trong trung tâm thương mại khác ngoài nhà phố chỗ nào?
Ngoài nhà phố, anh chị chốt bộ bản vẽ nội thất với đơn vị thiết kế xong là đóng đồ được. Trong trung tâm thương mại thì có thêm một bên nữa xem bản vẽ, là ban quản lý tòa nhà, và họ xem kỹ hơn mức phần lớn chủ đầu tư hình dung.
Chúng tôi làm một bộ hồ sơ cho nhà hàng G.Master trong Aeon Mall Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Trên bản vẽ có một khối ghi chú, nguyên văn: "Đồ nội thất không được có góc nhọn, gian hàng thiết kế góc vát hoặc bo tròn". Dưới chân từng trang của cả bộ còn một dòng nữa: "góc nhọn mài vát 5mm hoặc chụp V10mm cao su".
Hai dòng ghi chú cho thấy vòng duyệt của tòa nhà đi tới đâu. Nó không dừng ở mấy thứ anh chị đoán trước được là sẽ bị hỏi, như đường điện hay lối thoát nạn; nó xuống tận cái góc bàn, và ghi luôn cách xử lý: mài vát đi 5mm, hoặc chụp một thanh V10mm cao su lên góc.
Hệ quả với túi tiền của anh chị nằm ở chỗ này: một bộ bàn ghế đóng sẵn theo mẫu chung, hay một lô đồ mua về từ nơi khác, có thể vướng đúng điều kiện góc vát. Mà lúc vướng thì hàng đã nằm ở công trường rồi.
Còn 3 việc nữa chỉ gặp trong tòa nhà, không gặp ngoài nhà phố:
- Đồ khổ lớn phải qua được thang hàng và hành lang hàng hóa. Nên nhiều món đóng thành mảnh ở xưởng rồi ghép tại chỗ, thay vì đóng nguyên khối chở thẳng vào.
- Giờ được phép mang hàng vào thường là giờ tòa nhà đóng cửa, tức đội lắp đặt làm ca đêm.
- Bản vẽ nội thất phải qua thêm một vòng duyệt. Vòng này không nằm trong tay cả anh chị lẫn bên thiết kế, nên lịch đóng đồ phải trừ ra khoảng chờ.
Đường đi của hàng hóa trong tòa nhà chúng tôi kể riêng ở bài đường vận chuyển thiết bị bếp trong trung tâm thương mại.
Nên với mặt bằng trong trung tâm thương mại, anh chị đưa bộ nội quy thi công của tòa nhà cho bên làm nội thất ngay từ lúc chốt phương án, đừng đợi tới lúc chuẩn bị chở hàng.

Chia vật liệu theo khu thì được gì, mất gì?
Mất thì có 2 thứ, nói luôn cho rõ. Một là lên phương án lâu hơn, vì phải bóc từng khu ra mà tính chứ không kê một bảng vật liệu chung cho cả nhà hàng. Hai là tiền bỏ ra lần đầu ở mấy khu ẩm cao hơn, vì kính, inox hay gạch đều đắt hơn sơn nước.
Được thì anh chị khỏi phải trả tiền 2 lần cho cùng một mảng tường. Và chia theo khu còn mở ra chiều ngược lại: chỗ nào không tiếp nước thì thôi trả tiền cho vật liệu chịu ẩm, để dành tiền cho mấy khu thật sự cần.
Vì tự đóng ở xưởng riêng nên chúng tôi chốt vật liệu theo một lối khác: dùng gì cho khu nào là do chính tổ thợ sẽ đóng món đồ quyết định, chứ không phải một bên trung gian chốt rồi truyền xuống. Bên inox bếp chốt theo đúng lối này, chỉ khác là hồ sơ bên inox ghi mác thép, tức ký hiệu loại thép, thay cho ghi loại ván.
Anh chị muốn xem tận nơi thì xuống xưởng một buổi, đứng nhìn một vòng là biết bộ bàn ghế của mình sẽ ra đời ở đâu.
Chia khu xong thì tới lượt 2 việc trong từng khu: kê bàn cách nhau bao xa, và mỗi khu cần ánh sáng để làm gì. 2 việc này chúng tôi viết riêng ở khoảng cách giữa các bàn ăn và ánh sáng nhà hàng nên làm tới đâu.

Hạng mục thực hiện
Đồ gỗ, quầy, vách và trần
Đóng trọn phần nội thất tại xưởng theo đúng phong cách đã duyệt, tính sẵn chỗ đi dây và chỗ bảo trì về sau.
Chốt vật liệu theo từng khu
Bóc mặt bằng thành khu khô và khu ẩm, rồi chốt bề mặt với phần cốt cho từng khu, ghi vào hồ sơ để lúc nghiệm thu còn đối chiếu được.
Lắp đặt tại công trường
Ra công trường lắp đúng theo bộ bản vẽ anh chị đã ký, canh cho ăn khớp với các hạng mục cùng thi công trong công trình.
Chốt vật liệu lúc nào, và có phải làm trọn gói không?
Chốt vật liệu ở khâu thiết kế hay đợi tới lúc thi công?
Ở khâu thiết kế. Mặt bằng công năng quyết định khu nào thành khu ẩm, khu nào là khu khô. Chốt xong mặt bằng thì mới biết mỗi chỗ cần vật liệu hạng nào. Đợi tới lúc thi công thì phần cốt đã đóng rồi, đổi thì chỉ còn đổi được lớp mặt.
Xem cách chia tỉ trọng ngân sách trước khi thiết kế ở trang Thiết kế
Đồ nội thất người thuê trước để lại thì dùng lại được không?
Tuỳ nó đang đứng ở khu nào. Đồ ở khu khô mà phần cốt còn chắc thì dùng lại được, thường chỉ cần làm lại lớp mặt. Đồ ở khu ẩm thì kiểm 3 dấu hiệu trước đã: gõ vào nghe bộp, ấn tay thấy lún, cánh không khép kín. Dính một dấu là nên tính chuyện đóng lại, vì phần hỏng nằm chỗ không sửa cục bộ được.
Đặt lẻ vài món từ xưởng, không làm trọn gói, có được không?
Được. Anh chị đang tự lo phần thi công mà chỉ cần đóng bộ bàn ghế, hay cần thay một dãy vách, thì vẫn đặt riêng phần đó được. Phiếu ở trang Liên hệ có sẵn một mục cho việc đặt lẻ từ xưởng, anh chị chọn đúng mục ấy là được.
Xem khu gỗ công nghiệp và khu gỗ tự nhiên ở trang Xưởng sản xuất
Giá thiết kế thi công nội thất nhà hàng phụ thuộc cái gì?
Phụ thuộc mức vật liệu chọn cho từng khu, hơn là phụ thuộc diện tích. 2 nhà hàng cùng cỡ mà lệch tiền nội thất thì phần lớn lệch ở đó. Nên khi so 2 báo giá, anh chị so trên cùng một bảng vật liệu, đừng so 2 con số cuối cùng: cùng một tên vật liệu mà 2 nơi có thể đang nói 2 hạng khác nhau. Bảng vật liệu ấy chốt ở khâu thiết kế, trước lúc có báo giá đóng đồ.
Bàn ghế nhà hàng nên đóng theo mặt bằng hay mua sẵn?
Tuỳ chỗ ngồi. Khu bàn sát tường, ghế băng dài ôm góc, quầy bar thì đóng theo mặt bằng mới khít, vì mỗi centimet thừa là mất một chỗ ngồi. Bàn ghế rời giữa phòng thì mua sẵn được, miễn là chọn loại chịu được mấy trăm lượt kéo ra kéo vào mỗi ngày. Nhà hàng nào cũng dùng cả hai lối; cái đáng cân nhắc là món nào thuộc lối nào, và cân nhắc xong trước khi chốt mặt bằng công năng.
6 khâu của một công trình, cùng một đầu mối
- Thiết kế nhà hàng
- Xây dựng nhà hàng
- Cơ điện nhà hàng
- Inox bếp công nghiệp
- Nội thất nhà hàngAnh chị đang ở đây
- Biển hiệu nhà hàng
